Gãy mâm chày - Trang 2

Chỉ mục bài viết
Gãy mâm chày
Page 2
Tất cả các trang

VI. PHÂN LOẠI

- Có nhiều hệ thống phân loại gãy mâm chày. Nhìn chung các hệ thống này giống nhau là đều dựa vào loại gãy hình nêm, nén ép và hai lồi cầu

- Phân loại gãy mâm chày được chấp nhận rộng rãi đầu tiên là của Hohl, Ông phân các gãy này thành loại di lệch và không di lệch. Ông cho các loại gãy di lệch gồm sự nén ép khu trú, nén ép tách, lún hoàn toàn lồi cầu, và các gãy nát.

- Moore đã mở rộng quan niệm của Hohl, Ông tính đến cả các chấn thương năng lượng cao và hậu quả mất vững gối. Ông phân sự gãy - bán trật của gối thành 5 loại. Loại I là gãy tách của mâm chày trong ở mặt phẳng trán; Loại II là gãy hoàn toàn một lồi cầu mà đường gãy bắt đầu ở khoang đối diện và kéo dài ngang qua gai chày; Loại III là gãy bong bờ chày (các loại gãy này thường kèm chấn thương mạch máu, thần kinh với tỉ lệ cao); Loại IV là một loại gãy bờ chày khác, chấn thương nén ép bờ chày thường kết hợp với tổn thương dây chằng đối bên; Loại V là gãy 4 phần mà phần gai chày bị tách ra từ lồi cầu và thân xương chày.

- Phân loại gãy mâm chày được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là của Schatzker, lần đầu tiên phân biệt gãy mâm chày trong và ngoài. Loại I (gãy tách) là gãy chẻ hoàn toàn mâm chày ngoài tạo thành mảnh gãy hình chêm; Loại II (lún – tách) là gãy chẻ mâm chày ngoài mà phần mặt khớp còn lại bị lún vào hành xương; Loại III là gãy lún hoàn toàn trung tâm của mâm chày ngoài mà bờ xương còn nguyên vẹn; Loại IV liên quan đến gãy mâm chày trong và được chia thành 2 loại nhỏ: Loại IVA là gãy tách, loại IVB là gãy lún; Loại V là gãy 2 lồi cầu chày mà đường gãy thường tạo thành chữ “Y” đảo ngược; Loại VI là gãy mà có sự tách ra giữa hành xương và thân xương, có thể có độ nát khác nhau của 1 hay cả 2 lồi cầu và mặt khớp.

- Honkonen và Jarvinen gần đây đã sửa đổi phân loại của Schatzker, các ông tính đến cả trục chi còn lại và chia loại VI thành 2 loại nhỏ, đó là: nghiêng trong và nghiêng ngoài để tính đến kết quả chức năng trong điều trị xương gãy với di lệch gập góc còn lại.

- Phân loại của Hiệp Hội Chấn Thương Chỉnh Hình (OTA) dựa trên phân loại của AO/ASIF: đầu trên xương chày được qui định là đoạn 41 và được chia thành 3 loại chính. Loại A là gãy ngoài khớp; Loại B là gãy 1 phần mặt khớp và chia thành 3 loại nhỏ: B1 tách hoàn toàn, B2 là lún hoàn toàn, B3 là lún – tách; Loại C là gãy hoàn toàn mặt khớp và được chia thành 3 loại nhỏ: Loại C1 là gãy đơn giản mặt khớp và hành xương, Loại C2 là gãy đơn giản mặt khớp và gãy nhiều mảnh hành xương, Loại C3 là gãy nhiều mảnh mặt khớp.

VII. CÁC QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ HIỆN NAY

Các gãy không hay ít di lệch có thể điều trị bảo tồn. Mức độ lún mặt khớp có thể được chấp nhận thay đổi từ 2mm đến 1cm. Điều quan trọng hơn là sự cần thiết phẫu thuật điều trị gãy mâm chày nên được dựa trên sự mất vững hơn 100 của gối duỗi không hoàn toàn so với bên chân kia. Gãy tách có xu hướng mất vững hơn các gãy lún hoàn toàn mà bờ chày còn nguyên vẹn. Các gãy hở, gãy xương có chấn thương mạch máu chính hay chèn ép khoang cần phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu.

·    Điều trị bảo tồn:

·    Điều trị phẫu thuật

·    Tư thế bệnh nhân

·    Các kỹ thuật nắn

·    Nội soi khớp

·    Chọn lựa nẹp ốc, cố định ngoài

VIII. CHĂM SÓC HẬU PHẪU

Sau mổ, khớp gối nên được bảo vệ trong nẹp bản lề. Có nhiều báo cáo cho thấy lợi ích của việc tập vận động sớm sau gãy mâm chày. Vận động thụ động tiếp tục từ 00-300 có thể bắt đầu sau mổ 1 ngày rồi tăng dần ở mức bệnh nhân chịu được. Tập Vật lý trị liệu bao gồm tập vận động khớp gối chủ động và chủ động có trợ giúp, tập cơ tứ đầu đẳng trường, tránh chịu lực chi gãy. Mức độ chịu lực tăng dần tùy theo mức lành xương gãy. Vài Phẫu thuật viên cho BN chống chân hoàn toàn trong trường hợp chỉ có gãy mâm chày ngoài và 1 well molded cast brace dùng để giảm tải (unload) khoang bị ảnh hưởng.

Với những BN điều trị bằng Cố định ngoài sẽ trì hoãn tập vận động trong 4-6 tuần sau mổ, dụng cụ kết xương được lấy đi dựa trên bằng chứng lành xương trên Xquang.

IX. CÁC BIẾN CHỨNG

Tỉ lệ biến chứng là 10-12% ở các bệnh nhân điều trị bảo tồn và từ 1-54% ở điều trị phẫu thuật. Hầu hết các biến chứng gặp trong điều trị bảo tồn

·    có liên quan đến bất động lâu dài như: bệnh huyết khối, bệnh phổi;

·    liệt TK mác cũng xảy ra với điều trị bột.

·    Nhiễm trùng chân đinh ở BN kéo tạ.

BS Nguyễn Văn Lộc

Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình

 



 

Thẩm mỹ

Ý kiến khách hàng

Tìm kiếm

Thắc mắc & Hỏi đáp

Khoa cấp cứu


 

Video CLip

Liên kết

Quảng cáo