Home Giáo dục sức khỏe Thông tin sức khỏe Một số thông tin về thuốc chủng HPV ngừa ung thư cổ tử cung
Chỉ mục bài viết
Một số thông tin về thuốc chủng HPV ngừa ung thư cổ tử cung
THUỐC CHỦNG HPV
Tất cả các trang

 

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ

THUỐC CHỦNG HPV NGỪA UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Bs. Trần Bình Trọng

   Ung thư cổ tử cung là loại ung thư đứng hàng thứ hai trong tổng số ung thư ở phụ nữ, chỉ sau ung thư vú. Theo ước tính, mỗi năm có khoảng 510.000 ca mới mắc và  288.000 phụ nữ tử vong trên toàn thế giới vì ung thư cổ tử cung [1].

   Các nhà khoa học đã tìm thấy sự hiện diện của HPV (Human Papilloma Virus) trong > 99% các trường hợp ung thư tế bào gai. Từ đó đưa đến kết luận HPV là nguyên nhân cần có của ung thư cổ tử cung.[2]

Human Papilloma Virus

   HPV là một loại virus có cấu trúc DNA thuộc họ Papovaridae.

   Hiện nay có trên 100 type HPV đã được phân lập, trong đó có trên 30 type gây bệnh trên da và màng nhầy của cơ quan sinh dục và vùng hậu môn. HPV được chia làm 2 nhóm tùy theo tiềm năng gây tổn thương lành tính hay ác tính.

      - Nhóm nguy cơ thấp: type 6, 11...... trong đó 2 type 6 và 11 chiếm đến 90% các trường hợp u nhú ở đường sinh dục.

      - Nhóm nguy cơ cao : type 16, 18 (2 type này chịu trách nhiệm đến > 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung), ngoài ra các type nguy cơ cao có khả năng sinh ung khác theo thứ tự tần suất giảm dần gồm 45, 31, 33, 52, 58, 35, 59, 56, 51, 39, 68, 73 và 82 . Các type nguy cơ cao còn có thể gây ung thư ở âm đạo, âm hộ, dương vật hoặc ung thư hậu môn.

Cách lây truyền:

   HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục. Ngoài lây lan qua giao hợp sinh dục-sinh dục, HPV còn có thể lây qua tiếp xúc tay-sinh dục, miệng-sinh dục, sinh dục-hậu môn. Ngoài ra, HPC còn có thể lây truyền theo chiều dọc từ mẹ sang con dù không thường gặp. Trường hợp này HPV có thể gây bệnh đa bướu gai đường hô hấp trẻ

Tần suất nhiễm HPV:

   HPV là loại virus gây bệnh lây qua đường tình dục rất thường gặp. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 6 triệu người bị nhiễm HPV sinh dục [3]. Theo ước tính, có khoảng 20 triệu người Mỹ tức 15% dân số hiện đang bị nhiễm HPV, trong đó 1/2 ở vào lứa tuổi từ 15 – 20 [4]

   Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu được thực hiện trên 1.550 phụ nữ từ 18-69 tuổi tại 10 quận huyện thuộc TP. HCM, tỷ lệ nhiễm HPV là 10,84% (168/1550), trong số đó nhiễm HPV type nguy cơ cao có tỷ lệ là 9,1% (141/1550) [5].

Diễn tiến của nhiễm HPV sinh dục

   Theo ước tính có khoảng 50- 80% phụ nữ bị nhiếm HPV vào một thời điểm nào đó trong đời và một nửa trong số này mắc các type HPV nguy cơ cao. Tuy nhiên, không phải tất cả những phụ nữ bị mắc bệnh đều diễn tiến đến những thay đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung mà phần lớn (85%) nhiễm HPV chỉ thoáng qua, không triệu chứng và virus tự thoái triển. Như vậy, chỉ một số ít phụ nữ bị nhiễm HPV sẽ diễn tiến đến ung thư cổ tử cung khi tình trạng nhiễm HPV tồn tại kéo dài. Nói cách khác, nhiễm HPV chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để bị ung thư cổ tử cung.

   Các đồng yếu tố có lẽ góp phần trong sự tiến triển của nhiễm HPV đến ung thư cổ tử cung gồm:

      - Giao hợp sớm

      - Quan hệ với nhiều bạn tình hoặc bạn tình có nhiều bạn tình khác

      - Hút thuốc lá

      - Mắc các bệnh lây lan qua giao hợp khác


 

THUỐC CHỦNG HPV

            Hiện nay có 2 loại thuốc chủng HPV :

- Gardasil (Merck Sharp&Dohme) :  phòng HPV type 6, 11, 16, 18 (31)

- Cervarix (GlaxoSmithKline) : phòng HPV type 16, 18 (45, 31, 33)

Cả hai loại thuốc này đều đã được FDA chấp thuận.

Tại Viêt Nam, 2 loại thuốc trên cũng đã được bộ Y Tế chính thức chấp thuận cho lưu hành.

Thuốc chủng được sản xuất từ các hạt tương tự virus (VLP= Virus Like Particles) mang protein L1 – protein chủ yếu của lớp vỏ virus – và không mang DNA tức là không mang mả di truyền của virus.

Đối tượng nào nên được chủng ngừa ?

   Thuốc chủng HPV chỉ có tính chất phòng ngừa chứ không có tính điều trị. Vì vậy, lý tưởng nhất là chủng ngừa cho các bé gái trước khi có quan hệ tình dục.

   FDA chấp thuận sử dụng thuốc chủng cho bé gái và phụ nữ từ 9-26 tuổi.

   ACIP (Advisory Committee on Immunization) khuyến cáo nên tiêm chủng thường quy cho phụ nữ từ 11-26 tuổi (có thể bắt đầu lúc 9 tuổi). Đối với các phụ nữ đã quan hệ tình dục, rất có thể đã bị nhiễm HPV. Tuy nhiên ở lứa tuổi này ít khả năng người phụ nữ đã bị nhiễm tất cả các type HPV nguy cơ cao mà thuốc chủng có khả năng bao vệ. Vì vậy ACIP khuyến cáo vẫn có thể chủng ngừa cho những phụ nữ này. Tuy nhiên lợi ích miễn dịch sẽ ít hơn ở những phụ nữ đã nhiễm 1 hay nhiều type HPV có trong thuốc chủng.

   Tóm lại, để đạt được lợi ích hoàn toàn của việc chủng ngừa HPV, cần hoàn thành 3 mũi tiêm chủng trước khi bắt đầu có quan hệ tình dục:

   Lịch chủng được khuyến cáo cho Gardasil là 0,1,6 (liều thứ hai 1 tháng sau và liều thứ ba 6 tháng sau liều đầu tiên); đối với Cervarix là 0,2,6.

   Hiện nay chưa có đủ số liệu nghiên cứu về hiệu quả của vaccine trong trường hợp chưa hoàn tất đủ 3 liều tiêm chủng theo khuyến cáo nêu trên.

   Các chuyên gia cũng cho rằng có thể tiêm chủng HPV cùng lúc với các loại thuốc chủng khác.

Đối với nhóm phụ nữ trên 26 tuổi, hiện nay vẫn còn đang tiến hành nghiên cứu và chưa có kết luận về hiệu quả của thuốc chủng trên đối tượng này.

Chống chỉ định tiêm chủng HPV ?

- Phụ nữ có tiền căn quá nhạy cảm với nấm men hoặc dị ứng với bất cứ thành phần nào trong thuốc chủng

- Phụ nữ đạng bị cấp tính nặng

- Phụ nữ đang mang thai hoặc dự trù sẽ có thai trong vòng 6 tháng sắp tới.

   Đối với những phụ nữ đã tiêm 1 liều thuốc chủng rồi lỡ mang thai được khuyến cáo ngừng tiếp tục chủng ngừa. Sau sanh sẽ bắt đầu lại đủ 3 liều. Nếu phụ nữ đã tiêm được 2 mũi thì tạm ngừng, mũi thứ ba sẽ được tiêm sau khi sanh.

   Một nghiên cứu theo dõi các trường hợp mang thai một thời gian ngắn sau khi tiêm chủng HPV ghi nhận một số trường hợp bất thường trên thai nhi. Tuy nhiên về phương diện thống kê thì tỷ lệ các bất thường này không cao hơn so với dân số chung và theo các chuyên gia thì các bất thường này không có liên hệ trực tiếp với thuốc chủng. Do đó, lỡ mang thai ngay sau khi chủng ngừa không phải là một lý do bắt buộc phải chấm dứt thai kỳ.

   Các bà mẹ đang cho con bú vẫn có thể chủng ngừa đươc.

Có cần thiết tầm soát HPV trước khi chủng ngừa không ?

   Câu trả lời là không.

   Các test chuyên biệt để định type HPV như HPV-DNA chỉ cho biết tình trạng nhiễm HPV hiện tại chứ không biết được tình trạng nhiễm HPV trong quá khứ. Do đó về mặt thực tế lâm sàng, các test này chỉ được áp dụng để theo dõi các trường hợp có kết quả Pap bất thường. Ngoài ra các xét nghiệm huyết thanh học không đáng tin cậy và cũng ít khả thi về khía cạnh lâm sàng.

   Tuy nhiên một điểm quan trọng cần nhấn mạnh là dù đã được chủng ngừa HPV, phụ nữ vẫn phải được tiếp tục làm Pap tầm soát định kỳ.

Hiệu quả của thuốc chủng

-   Đối với nhóm phụ nữ chưa từng bị nhiễm HPV, thuốc chủng có hiệu quả gần như 100% trong việc phòng ngừa được các tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung, âm hộ, âm đạo – cũng như phòng ngừa được các u nhú sinh dục khác (đối với thuốc chủng tứ giá)

-   Khả năng tạo kháng thể đã được nghiên cứu trên nhóm trẻ gái 9 – 15 tuổi: 99% trường hợp tạo được kháng thể với một nồng độ cao hơn gấp nhiều lần và kéo dài lâu hơn so với kháng thể tự nhiên.

Độ an toàn của thuốc chủng

   Từ 2006, hơn 16 triệu liều vaccine đã được sử dụng và cả 2 loại thuốc chủng đều được đánh giá có độ an toàn cao. Khoảng 10.000 ca có phản ứng phụ được báo cáo, trong đó 94% là những phản ứng nhẹ như đau tại chỗ và sưng chỗ chích, nhức đầu, buồn nôn, sốt... 6% có phản ứng phụ trầm trọng như hội chứng Guillain Barre, động kinh, viêm tắc tĩnh mạch và 17 ca tử vong (9 ca không kết luận được và 8 ca nguyên nhân không liên hệ với thuốc chủng).

   Ngất xỉu là một phản ứng có thể xảy ra ngay sau tiêm chủng nên phụ nữ được khuyến cáo phải nằm nghỉ 15 phút sau khi chủng ngừa.

Thời gian bảo vệ sau chủng ngừa

-   Đối với thuốc chủng tứ giá (sau 5 năm theo dõi) : nồng độ kháng thể HPV 16 cao gấp 10 lần so với nồng độ kháng thể tự nhiên, 98% còn phản ứng huyết thanh (+); nồng độ kháng thể HPV 18 ngang bằng với nồng độ kháng thể tự nhiên, 65% còn phản ứng huyết thanh (+).

-   Đối với thuốc chủng nhị giá (sau 6,5 năm theo dõi) : nồng độ kháng thể HPV 16 và 18 cao gấp 11 lần so với kháng thể tự nhiên, 98% còn phản ứng huyết thanh (+)

Kết luận

1.Chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap đã giúp làm giảm xuất độ ung thư cổ tử cung đến 75% trong vòng 50 năm qua. Việc phát minh ra thuốc chủng HPV sẽ góp phần làm giảm mạnh hơn nữa tần xuất ung thư cổ tử cung, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi mà chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung chưa được thực hiện một cách hiệu quả.

2.Tuy nhiên để mục đích này có thể đạt được mức tối ưu, việc chủng ngừa phải được thực hiện đầy đủ với số lượng càng nhiều càng tốt cho các bé gái trước khi bắt đầu có quan hệ tình dục. Việc này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, quyết tâm của chính phủ cũng như khả năng tiếp cận và nhận thức của cộng đồng.

3.Diễn tiến từ khi bị nhiễm HPV nguy co cao cho đến khi tiến triển thành ung thư cổ tử cung là một quá trình kéo dài hàng chục năm hay hơn, do đó cần phải có thêm thời gian để có thể đánh giá đúng mức hiệu quả thực sự, tính an toàn cũng như thời gian bảo vệ của các loại thuốc này.

4.Cần nhắc lại một lần nữa là thuốc chủng chỉ có tính chất phòng ngừa chứ không phải là điều trị. Do đó, dù đã được chủng ngừa, các phụ nữ vẫn phải tiếp tục theo dõi tầm soát định kỳ ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm Pap.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Pagliusi S. WHO.Human papillomavirus infection and cervical cancer. Available at http://www.who.int/vaccine_research/diseases/hpv/en/.

2. Walboomers JM, Jacob MV, Manos MM et al. Human papillomavirus is a necessary cause of invasive cervical cancer worldwide. J.Pathol. 1999;189:12-19

3. Weinstock H, Berman S, Cat W Jr. Sexually transmitted diseases among yong american youth: incidence and prevalence estimates, 2000. Perspect Sex Reprod Health 2004;36:6-10

4. Cates w Jr. Estimates of the incidence and prevalence of sexually tramsmitted diseases in the United States. American Social Health Association Panel. Sex transm dis, 1999,26(suppl):S2-S7

5. Trần Thị Lợi, Lê Thị Kiều Dung, Hồ vân Phúc. Tỷ lệ hiện mắc nhiễm HPV cua phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan. Hội Nghị phòng chống ung thư phụ khoa lần thứ IV. 29-30/10/2009.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thẩm mỹ

Ý kiến khách hàng

Tìm kiếm

Thắc mắc & Hỏi đáp

Khoa cấp cứu


 

Video CLip

Liên kết

Quảng cáo